Tại sao phải mua 1 chiếc Toyota Camry khi bạn có thể chọn 1 chiếc Mercedes E Class ?

Send: 29/06/2017 - 19:11
 
 
So sánh Camry 2007 và E Class 2007, chỉ có tại Việt Nam !

Mặc dù được liệt kê vào loại hàng hóa tiêu dùng nhưng xe ô tô vẫn được coi là 1 tại sản lớn tại Việt Nam. Phần lớn những người mua xe đều tính toán sao cho chi phí đầu tư vào chiếc xe phải kinh tế, nghĩa là tỷ lệ hao hụt theo thời gian + chi phí bảo dưỡng ở mức thấp nhất. Chính vì vậy mà khi mua 1 chiếc xe cũ, chi phí bảo dưỡng lại là yếu tố quyết định chứ không phải là cảm giác lái, tính an toàn và các tiện ích mà nó mang lại. Bài viết sẽ đưa ra 1 ví dụ so sánh giữa Camry 2007 và E Class 2007.

Mercedes E200K 2007 Vietnam
Mercedes E200K 2007 Vietnam
Camry 2.4G 2007
Camry 2.4G 2007

VS

 

Nếu so sánh biến động về giá tính theo USD của E200K 2007 và Camry 2.4 2007 trong khoảng thời gian từ 04/2012 đến 12/2016, có thể dễ dàng nhân thấy chiếc Mercedes giảm giá nhanh gấp 2 lần chiếc Camry, từ 1 chiếc xe bán ra giá cao gần gấp rưỡi (94 000 usd so với 66 000 usd), 10 năm sau, chiếc Mercedes giờ đây còn rẻ hơn cả Camry. Một nghịch lý chỉ có ở Việt Nam nếu bạn biết rằng Mercedes E Class dùng để chạy Taxi ở các nước phát triển và 100 000 Km đối với chiếc xe này không phải là nhiều !

Nguồn Thuxe.vn (1000 điểm giá)

Nếu so sánh về các tính năng thì không cần phải là người am hiểu về xe cũng có thể thấy chiếc xe Đức nhỉnh hơn cả về thông số kỹ thuật lẫn trang thiết bị.

Thông số kỹ thuật
Nguồn gốc
Thế hệ
Bản nâng cấp
Năm đầu sx
Năm cuối sx
Khổ thân
Kiểu thân
Số cửa
Số ghế
Kích thước (DxRxC) (mm)
Khoảng sáng gầm xe (mm)
Chiều dài cơ sở (mm)
Vệt bánh trước (mm)
Vệt bánh sau (mm)
Đường kính vòng quay (m)
Trọng lượng không tải (kg)
Trọng lượng toàn tải (kg)
Thể tích cốp (L)
Dẫn động
Trợ lực lái
Hộp số
Mã động cơ
Nhiên liệu
Dung tích máy (L)
Công suất máy (HP)
Mô-men xoắn (Nm)
Tốc độ tối đa (Km/h)
Tăng tốc 0-100 Km/h (s)
Tiêu thụ trong thành phố (L/100Km)
Tiêu thụ đường trường (L/100Km)
Tiêu thụ trung bình (L/100Km)
Bình nhiên liệu (L)
Tiêu chuẩn khí thải CO2 (g/km)
Hệ thống treo trước
Hệ thống treo sau
Thắng trước
Thắng sau
Kích cỡ lốp
Mâm xe
Túi khí
ABS (Chống bó cứng phanh)
EBD (Cân bằng lực phanh)
EBA (Hỗ trợ phanh khẩn cấp)
ESP (Cân bằng điện tử)
TCS/ASR (Điều khiển lực kéo)
HSA (Hỗ trợ khởi hành ngang dốc)
Trang thiết bị
Cảm biến đậu xe
Hỗ trợ đậu xe
Camera lùi
Còi chống trộm
Ga tự động
Giới hạn tốc độ
Lẫy số vô lăng
Tay lái điều chỉnh vị trí
Tay lái tích hợp nút bấm
Tự động tắt bật động cơ
Khởi động không chìa
Mở cửa không chìa
Cảm biến khóa cửa theo tốc độ
Khóa cửa trung tâm
Cửa kính điều chỉnh điện
Điều hòa
Điều chỉnh nhiều vùng độc lập
Chất liệu ghế
Ghế tài
Ghế khách trước
Hàng ghế sau
Hàng ghế thứ 3
Bảng đồng hồ
Màn hình thông số kỹ thuật
Màn hình hiển thị trên kính lái
Màn hình đa chức năng
GPS
Radio
CD/DVD
Số loa
Cổng kết nối
Đèn trong xe
Kính chiếu hậu trong xe
Tựa tay
Cửa trời
Đèn pha chiếu gần
Đèn pha chiếu xa
Đèn pha tự động bật/tắt
Đèn pha tự động lên xuống
Đèn pha tự động chiếu ngang
Đèn pha tự rửa
Đèn đuôi xe
Đèn phanh
Đèn sương mù
Đèn ban ngày
Đèn báo rẽ trên kính chiếu hậu
Kính chiếu hậu gập điện
Kính chiếu hậu chỉnh điện
Cảm biến gạt nước tự động
Toyota Camry 2.4G 2007
Việt Nam
6
0
11/2006
09/2009
Khổ trung
Sedan
4
5
4825x1820x1470
160
2775
1575
1565
11
1500
1970
410
Bánh trước
Thủy lực
Tự động 5-cấpNo Data
2AZ-FE VVT-i
Xăng
2.4
165 at 6000 rpm
220 at 4000 rpm
No Data
No Data
No Data
No Data
No Data
70
No Data
Độc lập kiểu McPherson, thanh cân bằng
Độc lập, cơ cấu liên kết 2 điểm, thanh cân bằng
Đĩa thông gió
Đĩa đặc
215/60 R16
Mâm đúc hợp kim
2
Không
Không
Toyota Camry 2.4G 2007
Trước 2 Sau 4
Không
Không
Không
Không
Không
Chỉnh tay 4 hướng
Volume, Multiple info display, Air conditioner
Không
Không
Không
One touch all around windows, antipinch
Tự động
2 vùng độc lập
Da
Chỉnh điện 8 hướng
Chỉnh điện 6 hướng
Kiểu ghế băng
No Data
Mechanic Optitron gauges
Màn hình đơn sắc
Không
No Data
Không
CD
6
AUX
Trước và Sau
2 chế độ ngày/đêm
Trước và sau
No Data
HID thấu kính cầu
Halogen
Tự động
Không
Không
LED
Đèn thứ 3 trên cao
Trước
No Data
Không
Mercedes-Benz E200K Avantgarde 2007
Việt Nam
3
1
11/2006
2009
Khổ trung
Sedan
4
5
4818x1822x1450
No Data
2854
1577
1570
11.2
1600
2105
450
RWD
Điện
Tự động 5-cấpNo Data
M271956 VVT
Xăng
1.8
181 at 5500 rpm
250 at 2800 rpm
No Data
No Data
No Data
No Data
No Data
73
No Data
Độc lập liên kết đa điểm, thanh cân bằng
Độc lập liên kết đa điểm, thanh cân bằng
Đĩa thông gió
Đĩa đặc
225/55 R16
Mâm đúc hợp kim
8
Mercedes-Benz E200K Avantgarde 2007
Trước và Sau
Không
Không
Không
Chỉnh điện 4 hướng
Điều chỉnh âm thanh, màn hình đa chức năng, điện thoại rảnh tay
Không
Không
Không
One touch all around windows, antipinch
Tự động
4 vùng độc lập
Da
Chỉnh điện 10 hướng
Chỉnh điện 8 hướng
Kiểu ghế băng, gập 60/40, tựa đầu điều chỉnh độ cao
No Data
Đồng hồ cơ
Màn hình đơn sắc
Không
Màn hình LCD
Không
CD
8
AUX, USB, Bluetooth
Trước và Sau
Tự động chỉnh 2 chế độ ngày đêm, chống chói
Trước và sau
No Data
Xenon
Xenon
Tự động bật/tắt
No Data
Đèn thứ 3 trên cao
Trước và Sau
No Data

Nguồn ThuXe.vn

Đi tìm nguyên nhân

Chi phí để nuôi và sửa chữa những chiếc xe sang ở Việt Nam là một trở ngại lớn. Điều này khiến các xe phổ thông dù cũ vẫn làm mưa làm gió về giá và khi đó số phận những chiếc xe hạng sang bị lép vế.

Thực tế là xe sang vẫn tiêu thụ tốt tại Việt Nam, nhưng chỉ là phân khúc xe mới được giới chủ doanh nghiệp, hoặc người có thu nhập khá mua và chỉ sử dụng trong khoảng 3 - 4 năm đầu, sau đó sẽ bán đi chứ không giữ lại sử dụng tiếp để tránh phải đổ chi phí vào những đợt bảo trì lớn (80.000 – 100.000km) với chi phí có thể rất tốn kém.

Nhiều khi cầm bảng báo giá từ các hãng xe sang mà chủ xe hoa cả mắt, ngay cả giới có tiền đi chăng nữa cũng phải gãi đầu. Chẳng hạn như lọc gió động cơ của mẫu E Class cũng có giá lên tới hơn 3 triệu VND, và một lần thay dầu hộp số của mẫu xe này cũng tốn tới gần 6 triệu VND, hoặc một lần thay cao su chân máy (2 chiếc) cũng ngốn của chủ xe gần 10 triệu VND…

Trong khi đó, những chiếc xe phổ thông hoặc thuộc về những nhãn hiệu bình dân, trong thời gian bảo hành chi phí chủ xe phải bỏ ra là không đáng kể và ngay cả lúc hết bảo hành thì chi phí thay thế phụ tùng cũng không thuộc vào loại “ác mộng”.

Một vấn đề khác nảy sinh là phụ tùng thay thế cho các loại xe sang rất đắt đỏ, và không thường xuyên có sẵn nếu như những đời xe đó không còn được bán trong showroom của hãng. Vì vậy, chủ nhân của những dòng xe này nhiều khi phải đánh cược đặt mua ở ngoài trong khi không chắc lắm về chất lượng.

Phần lớn những dòng xe sang cho dù đời thấp mà có hư hỏng liên quan đến động cơ, hệ thống điện,... thì đều phải tìm vào hãng sửa chữa và bảo trì, chứ nhiều gara ngoài chưa đủ trình độ để khắc phục những hỏng hóc này (chỉ có thể làm đồng và sơn). Chính vì vậy, đã có không ít trường hợp “sống dở chết dở” chỉ vì cứ sửa được bệnh nọ thì lại phát sinh tật kia mà không thể giải quyết triệt để.

Những vấn đề trên là ngọn nguồn của việc tại sao xe sang ở Việt Nam sau khi sử dụng trên 2-3 năm lại mất giá hơn những dòng xe phổ thông, ngược lại những dòng xe phổ thông sử dụng chán chê mà khi bán chỉ lỗ một khoản nhỏ không đáng so với sự phục vụ của nó. Cá biệt có những mẫu xe sau khi sử dụng 1-2 năm bán còn huề hoặc có lời.

Nghịch lý xe sang mất giá rồi sẽ theo quy luật mai một dần khi thị trường có sự cạnh tranh và tham gia của nhiều nhà cung cấp dịch vụ và phụ tùng. Hơn ai hết, người tiêu dùng khi đạt đến một ngưỡng khó tính và ý thức được giá trị thực sự của một chiếc xe hơi, thì khi đó giá trị của xe sang sau khi sử dụng sẽ được giao dịch đúng với giá trị thực của nó.

Còn hiện tại, những ai am hiểu và nhạy bén thì việc có một chiếc xe sang giá bèo là hoàn toàn nằm trong tầm tay, miễn là bạn chấp nhận sống chung với những chi phí cho nó, và ngược lại sự phục vụ của nó đối với bạn thì hơn hẳn những chiếc xe hạng phổ thông.

Tại sao phải mua 1 chiếc Toyota Camry khi bạn có thể chọn 1 chiếc Mercedes E Class ?

admin 29/06/2017

Kết hợp với kienthuc.net.vn

Add new comment

CAPTCHA
This question is for testing whether or not you are a human visitor and to prevent automated spam submissions.